|
KHOA
TIẾT CHẾ
Điện
thoại : 84.4.8343700 (236)
Email
:

I.
TỔ CHỨC NHÂN SỰ :
Tổng
số: 17 người;
Trong đó:
1 Thạc sỹ
- Trưởng khoa;
1 cử nhân kế
toán của Pḥng Tài chính Kế toán Giám sát toàn bộ tài sản,
vật tư tiêu hao và việc xuất nhập nguyên vật liệu thực phẩm
tại Khoa.
14 Kỹ thuật viên
trung cấp trong đó có:
1 tổ trưởng điều
hành công việc tiết chế các chế độ ăn bệnh lư và phục vụ tại
buồng bệnh
1 Tổ trưởng tổ
văn pḥng phụ trách trật tự nội vụ, yêu cầu văn pḥng phẩm
vật tư tiêu hao, sửa chữa, chấm công, nhận phát lương, nhận
phiếu báo ăn từ bệnh pḥng và vào sổ thống kê, báo cáo tháng,
báo cáo quư.
1 Thủ kho
1 Hộ lư Khoa
Những kỹ thuật
viên c̣n lại chịu sự giám sát điều hành của tổ trưởng tổ
tiết chế.
Phụ trách khoa hiện tại:
Thạc sỹ Hoàng Thị
Mai Dung - Trưởng khoa
Điện thoại:
0953335439

ThS. Hoàng Thị Mai Dung II.
LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN :
Quá
tŕnh thành lập
- Năm 1969
Khoa Dinh dưỡng – Tiết chế ra đời cùng với Viện Bảo vệ sức
khoẻ trẻ em (Bệnh viện Nhi trung ương ngày nay) do y sỹ
Nguyễn Thị Măo làm Trưởng Khoa.
- Tháng 3
năm 1981 Cơ sở mới được khánh thành, Bệnh viện đổi tên thành
Bệnh Viện Nhi Việt Nam Thuỵ Điển. Những người kế cận phụ
trách Khoa sau đó là Bác sỹ Trần Thị Nga, sau đó là Bác sỹ
Đoàn Thị Kim Cúc. Trong suốt thời gian đó đến nay Khoa luôn
luôn đáp ứng nhu cầu về các chế độ ăn điều trị cho bệnh nhân.
Mặc dù sau
một thời gian, làn sóng cơ chế thị trường đă xoá đi hầu hết
các Khoa Dinh dưỡng bệnh viện trên toàn quốc nhưng Khoa Dinh
dưỡng-Tiết chế Bệnh viện Nhi trung ương vẫn tồn tại và phát
triển
Cơ sở vật
chất:
- Diện
tích khoa và trang thiết bị:
* Diện tích khoa
1200 m2 mặt bằng bao gồm:
Khu vực
hành chính:
+ Khu vực
hành chính được nối mạng nội bộ.
+ Pḥng
chủ nhiệm Khoa
+ Pḥng Tư
vấn dinh dưỡng cho bệnh nhân nội trú 25 m2
+ Pḥng
hành chính 12 m2,
+ Pḥng kế
toán có bàn làm việc,
+ Hội
trường Khoa 25 m2
+ Pḥng
trực nhân viên: Nơi nhân viên nghỉ trực
Các kho
bao gồm:
+ Kho bảo quản
thực phẩm
+ Các tủ
lạnh đựng thực phẩm tươi:
giữ trong
ṿng 1 ngày.
+ Một số
kho c̣n lại đựng hồ sơ lưu trũ, dụng cụ, thiết bị.
Khu vực
tiết chế bao gồm:
- Khu vực sơ chế
thực phẩm sống 60 m2 bao gồm: 2 labo to 50 lit để rửa thực
phẩm, 2 bàn sơ chế 10m2 để thái thực phẩm được làm bằng
inox, 1 giàn đựng thực phẩm sơ chế, 1 bộ máy làm sữa đậu
nành, 1 labo nhỏ để rửa tay, 4 ṿi rửa có trang bị nước rửa
bát và nước khử trùng vệ sinh tay.
- Khu vực
xay thực phẩm sống 20 m2 riêng biệt: có máy xay thịt công
nghiệp, Tủ lạnh, bàn để thực phẩm, cửa thoáng thông gió.
- Khu vực
xay thức ăn chín để tiết chế các chế độ ăn qua sonde 20 m2
Gồm 2 labo inox, bàn inox sơ chế, 1 máy xay sinh tố
- Khu vực
xay thực phẩm chín công nghiệp bao gồm: máy đánh bột công
nghiệp, máy xay thực phẩm chín công nghiệp công suất cao, tủ
nướng bánh, bộ 2 labo, ṿi rửa, bàn inox dài 4 m.
- Khu vực
pha sữa chuyên biệt: có 2 nồi hơi inox đun nước sôi, 1 tủ
mát, 1 tủ lạnh và 2 hệ thống labo, ṿi rửa, bàn inox mỗi bộ
dài 4m.
- Khu vực
chế biến thức ăn chín sau khi đă sơ chế sạch diện tích 200
m2 bao gồm:
+ Hệ
thống: 4 bếp điện, 2 chảo điện diện tích rộng, 5 nồi hơi gồm
2 nồi hơi loại: 150l; 2 nồi hơi loại 200l,1 nồi hơi loại 500
l và 1 bếp ga công nghiệp, 3 bàn inox loại dài 3 m, 2 kho để
dụng cụ, 6 ṿi nước, 1 hệ thống labo rửa tay. Ngoài ra c̣n
có 5 bếp ḷ than tổ ong dự pḥng khi mất hơi và điện v́ vậy
bệnh nhân được phục vụ bất kể trong điều kiện nào.
Khu vực để
xe đẩy cơm 200 m2 gồm hệ thống 30 xe đẩy inox đựng thức ăn
mang lên bệnh pḥng loại có chế độ giữ nhiệt.
Các thành tựu chính đạt được
- Xây dựng
và thực hiện tốt các chế độ ăn sinh lư, bệnh lư như: Tim
mạch, thận tiết niệu, tiêu chảy, đái đường….
- Cập
nhật, xây dựng các chế độ ăn cho các bệnh mới như: ghép gan,
ghép thận, ghép tuỷ, mổ tim được can thiệp phục hồi dinh
dưỡng cho bệnh nhân có hiệu quả rơ ràng.
- Các chế
độ ăn điều trị có hiệu quả rơ ràng đối với các bệnh gan
mật, tiêu chảy, tiêu chảy kéo dài, rối loạn chuyể hóa…. đă
được thống kê. Có bệnh nhân bị tiêu chảy kéo dài được điều
trị từ tuyến tỉnh lên Bệnh viện Nhi trung ương trên hai
tháng, sau đó điều trị 5 ngày bằng chế độ ăn tiêu chảy kéo
dài được xây dựng và tiết chế tại khoa đă khỏi bệnh.
- Như
bệnh nhân Ngô Anh Tuấn sau 3 tháng nằm viện phải chịu sự
điều trị ngặt nghèo như: Ghép thận, sau khi ra viện đă cao
được 5 cm và tăng lên 5 kg.
- Bệnh
nhân ghép gan đầu tiên là Hoàng Anh Tuấn khi chuẩn bị ghép
suy kiệt không ăn uống được nhiều ngày, sau đó đă ăn uống
rất tốt và chịu đựng được ca phẫu thuật cùng sự điều trị
ngặt nghèo.
- Bệnh
nhân Minh Anh, Diệu Anh và nhiều bệnh nhân khác bị mắc rối
loạn chuyển hóa, kém dung nạp đạm, suat cân nhanh chóng sau
khi điều trị bằng chế độ ăn kiêng của Khoa đă rất lên cân và
sau 1 tháng đă dùng được chế độ ăn như người b́nh thường.
- Theo
khuyến cáo của nhiều công tŕnh nghiên cứu trên thế giới,
cho ăn bằng đường miệng sau ghép là rất khó khăn do dùng
thuốc chống thải ghép, kháng sinh như: corticosteroids,
cyclosporine, và methotrexate nên gây ra những hậu quả: nôn,
tiêu chảy, nhiễm trùng đường tiêu hoá bởi: Graft versus host
disease (VHD), Venoocclusive disease (VOD), v́ vậy nhiều nơi
trên thế giới đă khuyến cáo cho bệnh nhân ăn bàng đường
miệng sau ghép là từ 2-3 tuần.
- Nhưng dù
sao mọi quan điểm đều nhất trí công nhận lợi ích của việc
cho ăn bằng đường miệng bởi dinh dưỡng cho bệnh nhân bằng
đường miệng là rẻ nhất, hợp với sinh lư nhất, tốt nhất tránh
nhiễm trùng và các biến chứng khi ăn sonde hoặc truyền tĩnh
mạch.
- V́ những
lợi ích trên của việc ăn uống bằng đường miệng nên tại Bệnh
viện Nhi trung ương đă có sự thống nhất giữa các bác sỹ điều
trị bệnh nhân ghép tạng và Khoa Dinh dưỡng mạnh dạn đưa dinh
dưỡng vào cho bệnh nhân bằng đường miệng sớm sau khi bệnh
nhân tỉnh.
- Kể từ ca
ghép tạng đầu tiên năm 2004 cho đến nay 100% các bệnh nhân
đều được ăn sớm bằng đường miệng hoàn toàn, chưa có bệnh
nhân nào phải ăn bằng ống thông và cũng chưa có một trường
hợp biến chứng do ăn uống nào xảy ra, sau đó các bệnh nhân
đều hồi phục dinh dưỡng rất nhanh.
- Xây dựng
một phần mềm dinh dưỡng ứng dụng cho mọi bệnh nhân.
- Cập nhật
sử dụng thành thạo “Phần mềm tư vấn dinh dưỡng” từ Viện dinh
dưỡng để tư vấn dinh dưỡng cho bệnh nhân một cách hiệu quả.
- Thường
xuyên tập huấn nâng cao kiến thức dinh dưỡng lâm sàng cho
toàn thể cán bộ trong Khoa.
Các đề tài
nghiên cứu Khoa học đă được công bố trong 2 năm gần đây:
- “Xây dựng chế
độ ăn thích hợp cho bệnh nhi suy thận, lọc máu chu kỳ và
ghép thận tại Bệnh viện Nhi trung ương”. PGS.TS. Trần Đ́nh
Long làm chủ nhiệm đề tài
- “T́nh trạng
nuôi dưỡng bệnh nhân tiêu chảy và hô hấp tại Bệnh viện Nhi
trung ương”. PGS.TS. Nguyễn Gia Khánh làm chủ nhiệm đề tài
- “Xây dựng chế
độ ăn sonde dạ dày cho bệnh nhân Viêm năo và viêm màng năo
tại Bệnh viện Nhi trung ương”. PGS.TS. Nguyễn Thanh Liêm làm
chủ nhiệm đề tài.
III.
CHỨC NĂNG NHIỆM VỤ :
1. Xây dựng chế
độ ăn bệnh lư theo tài liệu hướng dẫn của Bộ Y tế, kết hợp
với các thông tin cập nhật thường xuyên về những bệnh mới và
hội chẩn với các bác sỹ lâm sàng và theo từng trường hợp
bệnh cụ thể.
2. Tiết
chế các chế độ ăn đă được xây dựng, phục vụ tới tận buồng
bệnh
3. Tư vấn
cho bệnh nhân tại Khoa khi các bác sỹ lâm sàng gửi bệnh nhân
xuống Khoa hoặc yêu cầu tư vấn tại bệnh pḥng.
4. Truyền
thông dinh dưỡng cho người nhà bệnh nhân,
5. Tham
gia hội chẩn dinh dưỡng các trường hợp bệnh nhân cần có chế
độ ăn đặc biệt.
6. Tham
gia kết hợp với Viện Dinh dưỡng đào tạo tập huấn dinh dưỡng
cho bác sỹ dinh dưỡng tuyến tỉnh.
7. Nghiên
cứu khoa học
8. Trợ
giúp Giám đốc trong công tác lập kế hoạch và triển khai
chương tŕnh “Pḥng chống suy dinh dưỡng Quốc gia” hàng năm
tại Bệnh viện.
9. Thực
hiện triển khai dự án:“Mô h́nh Khoa Dinh dưỡng điểm và nguồn
lực Lâm sàng” thực hiện tại Bệnh viện.
10. Hướng
dẫn các toàn thể các bác sỹ cũng như các Khoa điều trị thực
hiện đường lối dinh dưỡng điều trị của Bộ y tế hiện nay.
IV.
HƯỚNG PHÁT TRIỂN
:
- Hoàn
thiện mô h́nh Khoa Dinh dưỡng điểm và nguồn lực lâm sàng để
các bệnh viện khác học tập
- Tiếp tục
xây dựng, áp dụng và triển khai các chế độ ăn mới hỗ trợ
trong điều trị.
- 100%
Bệnh nhân trong toàn Bệnh viện được cung cấp dinh dưỡng từ
Khoa
- Lập kế
hoạch chỉ đạo tuyến dưới về dinh dưỡng
- Tiếp tục
phối hợp với Trung tâm Đào tạo Viện Dinh dưỡng quốc gia
trong vấn đề tập huấn, đào tạo, hướng dẫn thực tập cho các
cán bộ dinh dưỡng tuyến dưới cũng như các sinh viên chuyên
ngành.
- Kết hợp
với Trung tâm Đào tạo của Viện Dinh dưỡng quốc gia, Trường
Đại học kỹ thuật Y tế Hải Dương trong việc viết giáo tŕnh
và giảng dạy.
- Tiếp tục
hoàn thiện đề tài “Đánh giá hiệu quả của việc triển khai mô
h́nh Khoa Dinh dưỡng điểm”.
- Hoàn
thiện, phát triển phần mềm dinh dưỡng cho mọi bệnh bệnh nhân
dựa trên các chỉ số về cân nặng, chiều cao, tuổi, loại bệnh
và mức độ bệnh.
- Cập nhật
thường xuyên những công nghệ mới để nâng cấp Khoa về trang
thiết bị cũng như về chuyên môn.
Trở về
|