Banner Nip
Home Page Introduce Researchs Treatment protocol Contact Feed Back English

Các công tŕnh nghiên cứu Nhi

     Quốc tế

Bộ Y tế

Đại học Y Hà Nội

Thông tin Y dược

Tuần tin tức Y dược

Báo sức khoẻ đời sống

Bệnh viện Việt Đức

Hội Phẫu thuật Nhi Việt Nam

MỘT SỐ NHẬN XÉT VỀ BỆNH NHI HEN PHẾ QUẢN TRẺ EM VÀO ĐIỀU TRỊ TẠI KHOA HÔ HẤP A16 BỆNH VIỆN NHI TRUNG ƯƠNG   

TS. Đào Minh Tuấn

ThS. Lê Hồng Hanh

Khoa Hô Hấp - Bệnh viện Nhi Trung Ương

 
Tóm tắt

Nghiên cứu hồ cứu 120 bệnh nhi hen phế quản vào điều trị tại khoa Hô hấp A16 trong năm 2002, chúng tôi rút ra một số nhận xét sau:

1.      Tỷ lệ bệnh nhi hen phế quản có xu hướng tăng lên, chiếm khoảng 6,4% so với tổng số bệnh nhân bệnh lư hô hấp chung phải vào viện điều trị.

2.     Trẻ trên 5 tuổi mắc hen phế quản phải vào viện có ưu thế hơn nhóm trẻ nhỏ tuổi. Trẻ trai bị nhiều hơn trẻ gái.

3.      Mức độ nặng của cơn hen thường không quá nặng nề, đáp ứng tương đối tốt với thuốc giăn phế quản nhóm b2 Adrenergique. Tuy nhiên t́nh trạng sử dụng Corticoid c̣n khá lạm dụng, ngay cả dưới dạng tĩnh mạch.

4.      Cần quan tâm đến t́nh trạng nhiễm trùng hô hấp thứ phát trong điều trị hen phế quản trẻ em.

Summary

Asthma in children was public health problem in Vietnam. There a lot of asthma patient was treated in National Children Hospital each year. The research focus on Epidemiology and clinical aspect of Asthma in children.

 

Study Method: We conducted a retrospective study, sample size selected 120 children asthma patients, whose was treated in Department of respiratory (A16) National Children Hospital in 2002, including patients met WHO standard for diagnosis asthma, the data was analyze by using STATA version 6.0.

Conclusions:

1. The trend of rate of asthma in children is increasing to 8, 3% among general total of respiratory patients. 

2. Rate of Asthma in children >5 years of age higher than group children <5 years.

3. Most patients were graded average, whose have good respond with ̣ 2 adrenergique.

I. Đặt vấn đề

            Hen phế quản nói chung và hen phế quản trẻ em nói riêng đă trở thành một bệnh lư xă hội, mang tính toàn cầu. Tần xuất mắc hen phế quản đang có xu hướng tăng cao trên toàn thế giới. Hiện nay nhiều nơi tỷ lệ hen phế quản đă ở con số đáng lo sợ như ở úc là13 – 15%, Pháp 8 – 10% ; Mỹ 5 – 7%.

            ở nước ta chưa có số liệu điều tra thống kê chính thức cho toàn quốc về tỷ lệ mắc hen phế quản. Tuy nhiên hiện nay, ở một số nơi, một số trung tâm nghiên cứu và theo dơi về hen phế quản cũng có những số liệu sơ bộ về tần xuất hen phế quản như của khoa Miễn dịch dị ứng lâm sàng Bạch Mai là 6 – 7%, theo số liệu của Sở Y tế Hà Nội tổng kết hen phế quản (năm 2001), tần xuất hen phế quản nói chung ở Hà Nội là khoảng 7%.

            Hen phế quản trẻ em được dự báo là có tỷ lệ mắc cũng rất cao. Hơn nữa hậu quả của hen phế quản và t́nh trạng lâm sàng ngày càng nặng là vấn đề rất cấp thiết hiện nay.

            Khoa Hô hấp Viện Nhi hàng năm tiếp nhận rất nhiều trẻ bị hen phế quản vào điều trị. Trong vài năm gần đây số lượng bệnh nhi hen phế quản tăng lên rơ rệt.

            Nghiên cứu t́nh h́nh hen phế quản trẻ em vào điều trị tại khoa Hô hấp Viện Nhi trong năm 2002 nhằm mục đích :

1. Nhận xét về tỷ lệ mắc bệnh hen phế quản so với các bệnh lư hô hấp chung phải vào viện điều trị.

2. T́m hiểu những đặc điểm lâm sàng của các bệnh nhi hen phế quản vào điều trị tại khoa.

3. Đánh giá hiệu quả của điều trị và đề xuất một số vấn đề về quản lư dự pḥng hen phế quản.

II. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu :

2.1. Đối tượng nghiên cứu

            Bao gồm các bệnh nhân vào điều trị tại khoa Hô hấp (A16) Viện Nhi trong năm 2002 được chẩn đoán xác định là hen phế quản dựa vào các tiêu chuẩn chẩn đoán của Tổ chức y tế thế giới.

2.2. Phương pháp nghiên cứu

-     Áp dụng phương pháp hồi cứu.

-     Tiêu chuẩn chẩn đoán hen phế quản : Theo TCYTTG, một bệnh nhân được chẩn đoán hen phế quản dựa vào các triệu chứng lâm sàng, các xét nghiệm cận lâm sàng (X-quang – chức năng hô hấp), khai thác tiền sử bản thân và gia đ́nh.

-     Triệu chứng lâm sàng : thể điển h́nh trẻ ngứa họng, mũi, ho từng cơn, xuất hiện các cơn khó thở kiểu co thắt, tắc nghẽn, khó thở ra là chính, phổi có ran rít ran ngáy, thông khí phổi giảm. Nhiều khi có biểu hiện suy hô hấp, rút lơm lồng ngực rơ rệt. Cuối con ho khó thở trẻ có thể ho khạc ra đờm trắng dính, sau đó thuyên giảm.

Cơn khó thở thường xuất hiện nửa đêm về sáng, đột ngột hay có tiền triệu nóng ngực, khó chịu trước đó. Cơn khó thở thuyên giảm hay đáp ứng tốt với thuốc giăn phế quản.

-     Khai thác tiền sử bản thân : trẻ thường có những cơn khó thở như trên tái phát nhiều lần, thường có liên quan đến yếu tố khởi phát như thay đổi thời tiết, tiếp xúc dị nguyên, gắng sức, nhiễm trùng v.v…

-     Tiền sử gia đ́nh : thường có liên quan đến các bệnh dị ứng như chàm, nổi mề đay, viêm mũi xoang dị ứng v.v…

-     Xét nghiệm cận lâm sàng :

+      Công thức máu.

+      X-quang phổi : t́nh trạng ứ khí trong phổi giai đoạn khó thở.

+      Đo chức năng hô hấp : suy giảm rơ rệt các thông số FEV1, FVC, sức cản tăng, trong cơn khó thở.

         Các test dị nguyên giúp chẩn đoán t́m nguyên nhân.

* Phân loại mức độ hen phế quản (dựa vào TCYTTG)

-     Đánh giá mức độ nặng của cơn hen phế quản cấp theo 4 độ : từ nhẹ ®  nặng (độ 1 ® độ 4).

-     Đánh giá mức độ nặng của bệnh hen phế quản dựa vào phân bậc hen : 4 bậc (từ nhẹ ® nặng) (bậc 1 ® bậc 4).

III. Kết quả nghiên cứu

3.1. Tuổi và giới của đối tượng nghiên cứu

            Trong năm 2002, có 120 bệnh nhi điều trị tại khoa Hô hấp A16 là hen phế quản. Trong số bệnh nhi được điều trị do các bệnh hô hấp nói chung.

Bảng 1. Tuổi và giới của các đối tượng nghiên cứu

 

Giới

Nam

Nữ

Tổng số

 

Tuổi

Bệnh nhi HPQ

Bệnh nhi hô hấp chung

Bệnh nhi HPQ

Bệnh nhi hô hấp chung

Bệnh nhi HPQ

Bệnh nhi hô hấp chung

<1 tuổi

7

560

5

438

12

998

1 – 5 tuổi

32

188

24

164

56

352

> 5 tuổi

30

68

22

57

52

125

Tổng cộng

69

816

51

659

120

1.475

-         Nhóm lứa tuổi hen phế quản gặp nhiều là > 1 tuổi.

-         Tỷ lệ Nam/Nữ = 69/51

-         Tỷ lệ bệnh nhân  hen phế quản so với bệnh hô hấp chung phải vào viện điều trị là 120/1475.

-         Tỷ lệ bệnh nhân hen phế quản so với bệnh hô hấp chung có liên quan đến lứa tuổi :

     ở lứa tuổi nhỏ < 1 tuổi, tỷ lệ hen phế quản chỉ là 12/998 = 1,2%

+      Lứa tuổi 1 – 5 tuổi : Tỷ lệ hen phế quản/bệnh hô hấp chung là 56/352 = 15,8 %

+      Lứa tuổi > 5 tuổi : Tỷ lệ hen phế quản/bệnh hô hấp chung là 52/125 = 41,5%

 3.2. Tiền sử

3.2.1. Tiền sử bản thân

            Nghiên cứu tập trung về tiền sử bệnh tật có liên quan của bệnh nhân hen phế quản.

 Bảng 2. Tiền sử bệnh tật và yếu tố liên quan các bệnh nhân hen phế quản

 

Bệnh tật và yếu tố liên quan

Số bệnh nhân

Tỷ lệ %

Biểu hiện dị ứng (nổi mề đay, viêm mũi dị ứng, ban mẩn ngứa, dị ứng với thức ăn, chàm thể tạng).

27

22,5

Viêm phế quản phổi tái nhiễm

41

34,2

Liên quan thay đổi thời tiết

18

15,0

Không có tiền sử dị ứng, hoặc các yếu tố liên quan.

34

28,3

Tổng số

120

100,0

             Số bệnh nhân có tiền sử mắc viêm phế quản phổi tái nhiễm (>3 lần) có tỷ lệ khá cao (41/120 = 35%).

 3.2.2. Tiền sử gia đ́nh

Bảng 3. Tiền sử gia đ́nh có bệnh lư hoặc yếu tố liên quan đến hen phế quản

 

Bệnh tật và yếu tố liên quan

Số bệnh nhân

Tỷ lệ %

Gia đ́nh có người bị hen phế quản

19

15,7

Số gia đ́nh có người biểu hiện dị ứng (chàm, nổi mề đay, viêm mũi dị ứng, dị ứng thức ăn v.v..)

32

26,6

Gia đ́nh không có biểu hiện bệnh lư hay yếu tố dị ứng liên quan.

69

58,7

Tổng số

120

100,0

            Số gia đ́nh có người bị hen phế quản và dị ứng chiếm 19 ± 32 = 51/120  (chỉ tính những người thân có quan hệ ruột thịt với bệnh nhân như cha mẹ đẻ, cô d́ chú bác ruột, ông bà nội ngoại và anh chị em ruột của bệnh nhân).

 

 

3.3. Mức độ nặng của cơn hen phế quản khi vào viện

            Đánh giá mức độ nặng của cơn hen phế quản dựa vào 4 mức độ : từ độ 1 đến độ 4 dựa vào cách đánh giá của TCYTTG.

Bảng 4. Mức độ nặng của cơn hen phế quản

 

 

Mức độ nặng cơn hen

Số bệnh nhân

Tỷ lệ %

Độ I

54

45,0

Độ II

55

45,8

Độ III

11

9,2

Độ IV

0

0,0

Tổng số

120

100,0