|
|
|
|
|
Các công tŕnh
nghiên cứu Nhi
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
Sàng
lọc sơ sinh Biện pháp để phát
hiện sớm bệnh lư rối loạn
nội tiết - chuyển hoá và di truyền
GS.
Ts. Nguyễn Thu Nhạn
Chủ
tịch Hội nhi Khoa Việt Nam
Nguyên
Viện trưởng Viện Nhi Quốc gia
I.
Đặt vấn đề
Thành
tựu vĩ đại trong y học của
thế kỷ XX đó là t́m ra được
kháng sinh và sản xuất Vaccin để
điều trị và pḥng chống các
bệnh gây nên do vi khuẩn. Nhưng đe
doạ đến sức khoẻ con người
không chỉ có vi sinh mà c̣n có cả môi sinh.
Từ
giữa thế kỷ XX người ta đă
quan sát thấy có một số bệnh
tật đều sinh ra trong một số
gia đ́nh, một địa phương,
một chủng tộc nhất định.
Đó là những bệnh lư phân tử, mang
yếu tố di truyền và gia đ́nh.
Đó là những bệnh lư rối loạn
nội môi bên trong của cơ thể con người.
Những rối loạn này không gây chết
người ngay như các bệnh cấp tính,
nhiễm khuẩn nhưng tác hại to
lớn dến quá tŕnh phát triển và trưởng
thành của con người. Nếu không
kịp thời phát hiện, điều
tiết, bổ sung kịp thời những
khuyết tật mang tính bẩm sinh, sẽ
dẫn đứa trẻ đến tàn
phế, gánh nặng cho gia đ́nh và xă
hội không nhỏ, v́ số người
mắc bệnh lư là không ít trong cộng
đồng, nó có thể là âm thầm lan
truyền trong gịng họ, chủng tộc,
ảnh hưởng đến chất lượng
dân số. Đó là tiền đề để
ngành sức khoả thế giới đề
xuất biện pháp làm sàng lọc sơ
sinh, nhằm phát hiện sớm, can thiệp
sớm những bệnh rối loạn
nội tiết chuyển hoá và di truyền.
II.
Ư
nghĩa của sàng lọc sơ sinh
Phần
lớn các bệnh lư rối loạn nội
tiết – chuyển hoá và di truyền trong
thời kỳ sơ sinh hay một số năm
đầu của đứa trẻ thường
chưa bộc lộ rơ ràng rất khó phát
hiện và chẩn đoán, điển h́nh
như bệnh thiểu năng giáp bẩm
sinh hay suy giáp trạng (Myxoedeme) thường
không chẩn đoán đúng. Đến khi
các dấu hiệu lâm sàng và xét nghiệm
đă được chứng minh, đấy
là giai đoạn muộn, không c̣n khả năng
hồi phục hoàn toàn, đặc biệt
đối với chức năng hoạt
động của hệ thần kinh trung
ương, trí tuệ và tinh thần của
trẻ.
Hầu
hết các bệnh lư rối loạn nội
tiết – chuyển hoá và di truyền đều
tác động đến quá tŕnh phát
triển cơ thể, thể lực, tinh
thần kinh của trẻ. Những rối
loạn bẩm sinh này làm cho quá tŕnh
lớn lên và phát triển của trẻ
bị ngưng trệ, như đần
độn về trí tuệ, chậm lớn,
chậm phát triển về thể chất,
không phát triển dậy th́ hay rối
loạn phát triển giới tính, tóm
lại là một cơ thể tàn phế, không
có khả năng hoàn thành được các
chức năng sinh trưởng.
Tuy nhiên,
những rối loạn bẩm sinh này
nếu phát hiện sớm, điều
chỉnh kịp thời, bổ xung những
thiếu hụt trong cơ thể, giá thành
điều trị dễ chấp nhận,
đứa trẻ sẽ được
hồi phục gần như b́nh thường.
V́
vậy, sàng lọc sơ sinh một biện
pháp hiện đại trong y tế dự pḥng,
dự pḥng sớm, dự pḥng chu sinh có ư
nghĩa kinh tế, xă hội to lớn, góp
phần nâng cao chất lượng dân
số, cải tạo giống ṇi được
y tế thế giới đề xướng
là một biện pháp chiến lược
sức khoẻ toàn cầu trong thế
kỷ XXI.
III.
T́nh h́nh phát triển của chương tŕnh
sàng lọc sơ sinh trong 50 năm qua trên
thế giới
Ngay
từ những năm 50 của thế
kỷ trước (XX), một nhóm Bác
sỹ nhi khoa và Sản khoa tại bang Texac
của Hoa Kỳ đă nghiên cứu thấy
có một số trẻ trong cùng một gia
đ́nh đă mắc một số bệnh
giống nhau. Từ đó họ đề
nghị làm một số xét nghiệm
đơn giản như test ferric chloride
để chẩn đoán bệnh
phenylketonuria. Đây là nhóm nghiên cứu
đầu tiên trên thế giới của văn
pḥng sức khoẻ
bà mẹ trẻ em của Masssachasetts
đă tham gia vào chương tŕnh y tế
cộng đồng về sàng lọc sơ
sinh cho trẻ em.
Đến
năm 1963, Bác sỹ Robert Gubert đă phát
triển thành kỹ thuật máu giọt trên
giấy thấm để làm thành qui tŕnh hàng
loạt chương tŕnh sàng lọc sơ
sinh cho 29 nước trong hợp chủng
quốc Hoa Kỳ cho một số bệnh lư
huyết sắc tố, rối loạn
nội tiết, chuyển hoá, và một
số bệnh nhiễm khuẩn.
Cũng
thời điểm này, giữa những năm
60, Australia và Newzaeland bắt đầu làm
thử nghiệm điểm, đến
đầu 1970 th́ phát triển thành chương
tŕnh quốc gia với 8 loại bệnh
Phenylketorunia,Galactosemia, thiếu hụt
Biotinidase, Cystic fibrosic, thiểu năng giáp
bẩm sinh, tăng sản thượng
thận bẩm sinh, và MSUD (liệt tuỷ
bẩm sinh)
Tại
các nước Châu Âu như Pháp. Đức,
ư, Hà Lan, Thuỵ Sỹ, Thuỵ Điển,
Bỷ, cũng được tổ chức
thành trương tŕnh quốc gia vào
những năm 70.
Ở
Châu á có Singapore được bắt đầu
sớm nhất bằng sàng lọc G6 – PD vào
năm 1965. Sau đó là Nhật Bản, năm
1977 đă làm sàng lọc 4 bệnh là PKU,
MSUD, HCY và Histidinemia, đến năm 1979 làm
thêm thiểu năng giáp (CH) và tăng
sản lượng thận bẩm sinh (CAH) và
test Wilson disease cho trẻ từ 1 – 3
tuổi.
Hầu
hết các nước khác trong khu vực
đă triển khai chương tŕnh từ
những năm 80. Có Hồng Kông, Ma Cao làm năm
1984 với 2 loại bệnh là thiểu năng
giáp (CH) và G6PD. Phát hiện tần số
mắc bệnh CH là 1/2404 sơ sinh sống.
Trung Quốc bắt đầu làm năm
1980, phát hiện tỉ lệ mắc của
CH là 1/3.600/ SS và PKU là 1/11.200/ SS. Hiện nay
Bắc Kinh và Thượng Hải đă làm
được 95% trẻ sơ sinh đẻ
ra hàng năm. Nhưng tính trong toàn quốc
th́ c̣n thấp là 5% trẻ em được
làm sàng lọc. Đài Loan cũng đă có
chương tŕnh sàng lọc sơ sinh
từ năm 1981. Đến nay 95% trẻ sơ
sinh đẻ ra đă được làm sàng
lọc 5 bệnh: thiểu năng giáp, PKU,
HCY, Galactosemia và G6PD, năm 2000 đă làm thêm
CAH.
Những
nước trong khu vực Đông Nam á và Tây
Thái B́nh Dương như
Philippin bắt đầu từ 1990,
đă làm được CH, CAH, Galactosemia,
PKU, HCY và G6PD. 6 bệnh, Thái Lan làm năm
1996 với 3 loại bệnh CH, PKU và CAH. Phát
hiện tỉ lệ mắc CH là 1/3.314/ SS.
PKU là 1/285.005 / SS
Việt
Nam : Đă bắt đầu tham gia chương
tŕnh sàng lọc sơ sinh từ 1998, với
dự án khu vực có tên gọi là RAS/ 6/
032 do Nguyên tử năng quốc tế tài
trợ. Chương tŕnh bắt đầu
khởi động tại Viện Nhi
quốc gia. Qua 3 năm làm điểm
tại Hà Nội, hiện nay đến giai
đoạn mở rộng phát triển đến
phía Nam và miền Trung. Tỉ lệ mắc
của thiểu năng giáp bẩm sinh
tịa Hà Nội được phát
hiện là 1/ 2.500/ SS và thiếu hụt G6PD là
2% trẻ trai.
Như
vậy qua 5 thập kỷ nghiên cứu và
thực hành, chương tŕnh sàng lọc sơ
sinh hiện nay đă được toàn
cầu hoá khắp 5 châu lục. Chương
tŕnh đă thành lập Ban chỉ đạo
quốc tế với sự tham gia của các
nhà nhi khoa, sản khoa, di truyền học,
khoa học kỹ thuật hạt nhân. Nguyên
tử năng quốc tế
là người tài trợ lớn cho chương
tŕnh với mục tiêu sử dụng năng
lượng nguyên tử vào mục đích
hoà b́nh.
Vừa
qua hội nghị quốc tế lần
thứ 4 tại Philippin cho khu vực Châu á và
Tây thái b́nh dương năm 2001, đă có
25 nước tham dự. Bangladesh, Trung
Quốc, Hồng Kông, Nhật Bản,
Triều Tiên, Thái Lan, Đài Loan, Singapore,
Malaysia, Indonesia, Nam Phi, Pakistan, ấn Độ,
Việt Nam, Miến Điện, Mông Cổ,
Newzeland, Australia, áo, Phần Lan, Đức,
Guam, ư, Mỹ, Philippin.
IV.
Kỹ thuật tiến hành
Có 2
kỹ thuật tiến hành phổ biến
hiện nay trên các nước :
¨
Kỹ
thuật xét nghiệm ELISA
-
Kỹ thuật miễn dịch
huỳnh quang RIA
Cách
lấy máu :
-
Máu gót chân hay cuống rốn.
-
Thời gian lấy máu 3 – 5 ngày sau sinh
ra.
-
Mỗi một bệnh lấy một
giọt máu, cho lên giấy thấm khô chuyên
biệt.
-
Để phơi khô lên giá trong
nhiệt độ pḥng.
-
Sau khi máu thấm khô, cho vào phong b́ và
gửi về trung tâm labô quốc gia.
-
Kết quả xét nghiệm trả
lời không quá 1 tuần.
-
Trường hợp dương tính
phải tiến hành điều trị trong
ṿng 15 ngày đầu sau sinh.
V.
Những rối loạn chuyển hoá - di
truyền hiện nay đang được
thế giới làm SLSS :
-
Galactosemia.
Do thiếu galactokinase hoặc UDP –
galactose – 4 – epimerase enzyme, sẽ dẫn
tới chậm phát triển tinh thần,
phát triển không b́nh thường
thậm chí tử vong. Tần số
mắc trên thế giới : 1 : 60,000 – 1
: 80,000/SS.
-
Tăng
sản thượng thận bẩm sinh
– CAH. Do thiếu hụt enzyme 21 –
hydroxylase gây mất muối, chuyển
giới, có thể chết do cơn suy thượng
thận cấp và phát triển giới tính
bất thường – nam hoá hay dậy
th́ sớm. Tỷ lệ mắc 1 : 12,000
– 1 : 14,000/SS. Xét nghiệm nồng độ
17 – OHP.
-
Thiếu
men glucose – 6 – phosphate dehyogenese – G6PD.
Bệnh có tỷ lệ mắc cao 200
triệu trên toàn cầu, tỷ lệ
từ 2 – 25% dân số. Gây tan máu do
vỡ hồng cầu.
-
Thiểu
năng giáp bẩm sinh – CH. Có tần
số mắc cao, tỷ lệ mắc trên
thế giới 1 : 4000/SS, ở Châu á 1 :
2500/SS. Nồng độ TSH tăng cao
với trẻ sau sinh 3 – 5 ngày.
-
PKU
– Phenylketonuria gây thiểu năng trí
tuệ nếu không được điều
trị. Tần số mắc ở mỹ
là : 1 : 10,000/SS – 1 : 25,000/SS.
-
Alpha
– thalassemia . Trẻ b́nh thường
trong máu cuống rốn sẽ không có Hb
Bart. Trường hợp trẻ là alpha
– thalassemia 2 sẽ tăng lên 1- 2% Hb Bart
và alpha – thalassemia 1 sẽ cao đến
5 – 6% Hb Bart.
-
Bệnh
hồng cầu h́nh liềm – Sickel Cell
disease. Bệnh đột biến gên trong
bêta – globin, sản xuất ra Hb S thay cho
A.
-
MSUD
– Maple syrup urine disease.
-
Histidinemia.
-
Biotinidase
deficiency.
-
Cystic
fibroris.
-
HCY
– Hômcystia niệu.
-
RBC
– Red blood cell
-
Bệnh
teo cơ Duchenne.
-
Thính
lực, điếc bẩm sinh.
-
Bệnh
PAH (Phenylalanine hydrroxylase aporuzyme).
Tuỳ
t́nh h́nh mỗi nước để
chọn ưu tiên.
VI.
Hướng dẫn hệ thống các bước
tiến hành SLSS
Chương
tŕnh SLSS phải được đảm
bảo 5 bước sau :
-
Screening
: Bước sàng lọc đầu tiên
với trẻ SS (testing of newborn).
-
Follow
– up : Nhanh chóng xác định
những trường hợp dương
tính.
-
Diagnosis
: Xác định chẩn đoán
sớm những test dương tính
giả.
-
Management
: Nhanh chóng lên kế hoạch xử lư
điều trị lâu dài và suốt
đời cho trẻ.
-
Evaluation
: Đánh giá chất lượng labô,
quy tŕnh xử lư. Can thiệp và tạo
điều kiện thuận lợi cho
bệnh nhân, gia đ́nh và cộng đồng
thực hiện chương tŕnh. Đây
là 5 bước quan trọng và bắt
buộc để đảm bảo chương
tŕnh SLSS đạt được
mục tiêu.
VI.
Quản lư chương tŕnh :
Mục
tiêu của SLSS là đưa đứa
trẻ từ một bệnh nhân thành
một người khoẻ mạnh. Nên
tuỳ theo trường hợp bệnh lư khác
nhau, cần có sự hợp tác liên ngành
giữa các chuyên khoa huyết học,
nội tiết, di truyền, tâm thần, các
bệnh nhiễm khuẩn cấp tính nhi khoa,
giáo dục, tư vấn.
Cần có
sự trợ giúp của nhà nước, ngành
Y tế, các đoàn thể quần chúng như
tổ chức phụ nữ, các hội
từ thiện phi chính phủ. Truyền thông
đại chúng, hưởng ứng
và tự đóng góp của gia đ́nh,
cộng đồng, nhiều quốc gia, nhà
nước đầu tư trang thiết
bị labô, nhưng chi phí công ca ns, hoá
chất do gia đ́nh trả.
VIII.
Đánh giá quốc tế với chương
tŕnh SLSS
Mục
tiêu của chương tŕnh là rất
thiết thực và cần thiết, có
hiệu quả đối với sức
khoẻ cộng đồng. Chương tŕnh
cần được tổ chức
chặt chẽ, với những cộng tác
viên đắc lực, nhiệt tâm, với
hệ thống sàng lọc chất lượng,
chẩn đoán và theo dơi, điều
trị lâu dài của các chuyên gia. Sự
hỗ trợ của nhà nước và hưởng
ứng của cộng đồng sẽ góp
phần to lớn trong chiến lược
con người tương lai của toàn nhân
loại, nâng cao chất lượng dân
số, cải tạo giống ṇi.
IX.
Kết luận
Sau
gần nửa thế kỷ khởi động,
nghiên cứu, làm điểm và phát
triển mở rộng, đến nay CTSLSS
đă chứng minh hiệu quả to lớn,
nó giúp đứa trẻ lớn lên với
cuộc sống b́nh thường. Chương
tŕnh đă đem lại hạnh phúc và tương
lai cho hàng triệu trẻ em trên thế
giới; là một biện pháp chiến lược
dự pḥng quan trọng với sức
khoẻ cộng đồng.
X.
Tài liệu tham khảo
-
The
Journal of Pediatric. U.S Newborn Screening System
Followw-up of children, Diagnosis, management and
Evaluation. October 2000 – Volumn 137 No 4.
-
Report
of 4th Asian Pacific Regional Meeting of
Intenational Sociaety for Neanatal Screening. October 19
– 2001.
-
Regional
Program for the National Neonatal Screening for
Congenital Hypothyroidism in East Asia.
Báo cáo tại Hội nghị điều
phối viên khu vực thiên tân, Trung
Quốc tháng 12 – 2002.
-
Báo
cáo tổng kết CTSLSS bệnh suy giáp
trạng bẩm sinh tại Hà Nội,
Việt Nam từ 1998 – 2001.
Trở
về
|